Độc đáo vị thuốc mang tên lợn trị bách bệnh trong Y học cổ truyền

Độc đáo vị thuốc mang tên lợn trị bách bệnh trong Y học cổ truyềnTrong kho tàng dược liệu cổ truyền, có không ít cây thuốc, vị thuốc nam gắn liền với tên của con lợn. Dù không phải là cái tên kiêu sa nhưng chúng lại mang công dụng trị bệnh độc đáo

Trong kho tàng dược liệu cổ truyền, có không ít cây thuốc, vị thuốc nam gắn liền với tên của con lợn. Dù không phải là cái tên kiêu sa nhưng chúng lại mang công dụng trị bệnh độc đáo

Độc đáo vị thuốc mang tên lợn trị bách bệnh trong Y học cổ truyền

Trong các vị thuốc mang tên con lợn, hy thiêm là cái tên được nhắc nhiều nhất

Trong các vị thuốc mang tên con lợn, hy thiêm là cái tên được nhắc nhiều nhất. Y sĩ Y học cổ truyền Sài Gòn sẽ giúp bạn chỉ ra những ưu điểm trị bệnh mà vị thuốc mang lại để có thể tham khảo và áp dụng.

Vị thuốc hy thiêm hoa vàng (cứt lợn)

Hy thiêm theo nghĩa chữ Hán là cứt lợn, còn được gọi với cái tên khác là chó đẻ hoa vàng (Siegesbeckia orientalis L.), họ Cúc (Asteraceae). Hy thiêm được trồng nhiều nơi ở nước ta, được khai thác nhiều trong tự nhiên và trồng với quy mô lớn để làm thuốc trị phong thấp, sốt rét, tăng huyết áp... Trong vị thuốc hy thiêm chứa rất nhiều thành phần có tác dụng dược lý như: phytol, quercetin, orientalid, thymohydroquinon, rutin, orientin,... làm hạ đường huyết, hạ lipid máu, hạ huyết áp, an thần, cholesterol máu, tác dụng chống viêm trên động vật thí nghiệm.

Theo YHCT, hy thiêm có vị đắng, tính hàn, quy kinh can, thận. Vị thuốc mang tác dụng thanh nhiệt, giải độc, trừ phong thấp, hạ huyết áp. Bộ phận dùng làm thuốc là phần trên mặt đất của hy thiêm (Herba Siegesbeckiae). Thời gian thu hái vào đầu hè khi câu ra hoa. Sau khi thu hái về thì đem phơi hoặc sấy khô. Trước khi dùng vi sao, hoặc chích mật ong:10kg hy thiêm 2kg mật ong; hoặc chích rượu trắng 30 độ với tỷ lệ:10kg hy thiêm với 3kg rượu trắng. Ngoài ra có thể chế với mật ong và rượu trắng: 10kg hy thiêm với 0,5kg mật ong, 1kg rượu trắng.

Bài thuốc trị bệnh từ cây hy thiêm hoa vàng trong Y học cổ truyền

Trị phong thấp: Hy thiêm, ngưu tất, mỗi vị 12g; lá lốt (cả cây và rễ) 10g, thổ phục linh 20g. Tất cả đem tán bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 10g. Ngoài ra bạn có thể sắc nước uống trong ngày, trước bữa ăn 1 giờ.

Hoặc dùng bài thuốc: Hy cốt toái bổ thiêm (chế chưng rượu/mật ong) 16g; ngũ gia bì chân chim, dây gắm, ngưu tất hoặc rễ cỏ xước, mỗi vị 16g; cẩu tích 24g; ké đầu ngựa 4g. Tất cả đem sắc uống ngày 1 thang.

Trị phong tê thấp, đau lưng, đau xương khớp, tay chân tê bại, mỏi gối, mỏi chân tay, xương thịt tê buốt, mụn nhọt: Dùng hy thiêm 9-12 g. Sắc uống.

Trị tăng huyết áp: Hy thiêm, thảo quyết minh (sao vàng), ngưu tất, trạch tả, hoàng cầm, mỗi vị 6g; chi tử, long đởm thảo, mỗi vị 4g. Đem sắc uống ngày một thang, chia 3 lần trước bữa ăn 1 giờ.

Trị sốt rét lâu ngày, nhiều đờm đọng, không muốn ăn: hy thiêm tươi 50g đem rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt, ngày uống một lần 30 ml. Uống trong nhiều ngày.

Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn tuyển sinh Y sĩ YHCT Sài Gòn

Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn tuyển sinh Y sĩ YHCT Sài Gòn

Vị thuốc hy thiêm cành tuyến

Vị thuốc này còn gọi với cái tên hy thiêm lông (Siegesbeckia pubescens Makino.), họ Cúc (Asteraceae), thường phân bố ở một số tỉnh miền núi phía Bắc. Bộ phận dùng toàn cây. Y sĩ Y học cổ truyền Hà Nội cho hay, hy thiêm cành tuyến vị đắng, tính hàn, tác dụng tác dụng thông kinh lạc, trừ thấp, khu phong, lợi cân cốt, hạ huyết áp. Trị đau xương cốt, phong tê thấp, với liều 9 -12g.

Vị thuốc hy thiêm cành lông

Hy thiêm cành lông còn có tên hy thiêm sáng, cỏ dính (Siegesbeckia glabrescens Makino.), họ Cúc (Asteraceae). Cây thường mọc ở một số tỉnh miền núi phía Bắc. Bộ phận dùng làm thuốc là phần trên mặt đất, phơi hay sấy khô. Thu hái khi cây ra hoa. Vị thuốc có tác dụng trị phong thấp, cơ nhục, đau nhức xương khớp, tăng huyết áp, viêm gan hoàng đản, bán thân bất toại, sốt rét. Dùng ngoài trị ghẻ lở, mụn nhọt. Liều dùng 9-12g.

Theo chuyên gia tại Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn, cả 3 vị thuốc mang tên hy thiêm đều có hình dáng gần giống nhau, tính vị và công năng gần như tương tự. Tuy nhiên hy thiêm cành lông và hy thiêm cành tuyến hiện mới chỉ được sử dụng trong nhân dân ở một số địa phương, trong khi đó hy thiêm hoa vàng được sử dụng nhiều trong YHCT.


Bài viết liên quan

trường cao đẳng dược sài gòn tuyển sinhTop