Điều trị cơn tăng huyết áp cấp cứu và một số điều cần biết

Điều trị cơn tăng huyết áp cấp cứu và một số điều cần biếtCấp cứu tăng huyết áp được chẩn đoán nếu huyết áp tâm thu cao hơn 180 mmHg hoặc huyết áp tâm trương cao hơn 120 mmHg kèm theo tổn thương cơ quan đích cấp tính.

Cấp cứu tăng huyết áp được chẩn đoán nếu huyết áp tâm thu cao hơn 180 mmHg hoặc huyết áp tâm trương cao hơn 120 mmHg kèm theo tổn thương cơ quan đích cấp tính.

Điều trị cơn tăng huyết áp cấp cứu và một số điều cần biết

Bác sĩ giảng viên Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn cho biết Bệnh nhân tăng huyết áp cấp cứu bao gồm những người bị phình tách động mạch chủ, phù phổi cấp, nhồi máu cơ tim cấp, cơn đau thắt ngực không ổn định, suy thận cấp, xuất huyết nội sọ cấp, đột quỵ do thiếu máu cục bộ cấp, bệnh não do tăng huyết áp, sản giật hoặc tiền sản giật, tăng huyết áp trước phẫu thuật, khủng hoảng khối u pheochromocytoma và khủng hoảng tăng huyết áp cường giao cảm do sử dụng cocaine, amphetamine, phencyclidine, hoặc các chất ức chế monoamine oxidase hoặc do ngừng đột ngột clonidine hoặc các thuốc giống giao cảm khác. Những bệnh nhân này cần các loại thuốc có tác dụng nhanh và hiệu quả được tiêm tĩnh mạch để hạ huyết áp tăng cao một cách an toàn, bảo vệ chức năng cơ quan đích, cải thiện các triệu chứng, giảm biến chứng và cải thiện kết quả lâm sàng.

Thuốc được lựa chọn trong điều trị bóc tách động mạch chủ cấp tính là esmolol tiêm tĩnh mạch. Liều tải là 500–1.000 mcg/kg/phút được truyền trong 1 phút sau đó là tốc độ truyền 50 mcg/kg/phút. Tốc độ truyền tối đa là 200 mcg. Cần hạ huyết áp nhanh chóng và tức thì trong vòng 5 đến 10 phút đối với bệnh nhân bóc tách động mạch chủ cấp tính. Mục tiêu huyết áp mục tiêu ở những bệnh nhân này là huyết áp tâm thu dưới 120 mmHg. Nếu huyết áp vẫn tăng sau khi phong tỏa beta, có thể dùng thuốc giãn mạch như nitroglycerin hoặc nitroprusside truyền tĩnh mạch.

Các loại thuốc được lựa chọn trong điều trị cấp cứu tăng huyết áp kèm theo phù phổi cấp là nitroglycerin tiêm tĩnh mạch, clevidipine hoặc nitroprusside.

Thuốc chẹn beta chống chỉ định trong điều trị phù phổi cấp. Ngoại trừ trường hợp bóc tách động mạch chủ cấp tính, huyết áp ở bệnh nhân tăng huyết áp cấp cứu nên hạ trong vòng vài phút đến 1 giờ khoảng 20% đến 25% và sau đó dần dần đến 160/100 mmHg trong vòng 2 đến 6 giờ sau đó thận trọng về mức bình thường. 24 đến 48 giờ tiếp theo. Tốc độ truyền nitroglycerin tĩnh mạch ban đầu là 5 mcg/phút. Tốc độ truyền tối đa là 20 mcg/phút. Tốc độ truyền ban đầu của natri nitroprusside tĩnh mạch là 0,3 đến 0,5 mcg/kg/phút. Tốc độ truyền tối đa là 10 mcg/kg/phút. Tốc độ truyền tĩnh mạch ban đầu của clevidipine là 1–2 mg/h. Tốc độ truyền tối đa là 32 mg/h.

Điều trị cơn tăng huyết áp cấp cứu và một số điều cần biết

Bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim cấp tính hoặc cơn đau thắt ngực không ổn định và tăng huyết áp nặng nên được điều trị bằng esmolol tiêm tĩnh mạch. Huyết áp mục tiêu dưới 140/90 mmHg ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp hoặc cơn đau thắt ngực không ổn định, người ổn định về huyết động. theo chuyên gia ngành Điều dưỡng Huyết áp dưới 130/80 mmHg khi xuất viện nên được xem xét. Thận trọng khi hạ huyết áp ở những bệnh nhân này để tránh hạ huyết áp tâm trương xuống dưới 60 mmHg vì điều này có thể làm giảm tưới máu mạch vành và làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu máu cục bộ cơ tim.

Các loại thuốc được lựa chọn trong điều trị bệnh nhân tăng huyết áp cấp cứu và suy thận cấp là clevidipine, fenoldopam và nicardipine. Tốc độ truyền ban đầu của fenoldopam tĩnh mạch là 0,1-0,3 mcg/kg/phút. Tốc độ truyền tối đa là 1,6 mcg/kg/phút. Tốc độ truyền ban đầu của nicardipin tĩnh mạch là 5 mg/h. Tốc độ truyền tối đa là 30 mg/h. Trong 104 bệnh nhân tăng huyết áp cấp cứu có rối loạn chức năng thận được điều trị tại khoa cấp cứu bằng nicardipine tĩnh mạch hoặc labetalol, trong vòng 30 phút sau khi dùng thuốc, 92% bệnh nhân được điều trị bằng nicardipine tĩnh mạch đã đạt được huyết áp tâm thu mục tiêu so với 78% bệnh nhân được điều trị bằng labetalol tiêm tĩnh mạch.

Dược sĩ cao đẳng dược tphcm cho biết các loại thuốc được lựa chọn sử dụng để điều trị tăng huyết áp sau phẫu thuật bao gồm tiêm tĩnh mạch clevidipine, esmolol, nitroglycerin và nicardipine.

Enalaprilat tiêm tĩnh mạch có thể được dùng cho những bệnh nhân bị tăng huyết áp cấp cứu liên quan đến tình trạng renin huyết tương cao. Liều ban đầu của enaliprilat tiêm tĩnh mạch là 1,25 mg trong 5 phút.


Bài viết liên quan

trường cao đẳng dược sài gòn tuyển sinhTop